Thứ Ba, 4 tháng 12, 2012

Giáo dục giới tính cho học sinh đang còn rất khó khăn

Chủ tịch Hội Tâm lý giáo dục Hà Nội cũng thừa nhận: "Các em luôn có sự ngăn cách, ngại ngùng khi trò chuyện với giáo viên về các vấn đề của mình. Vì thế, ít khi thầy cô có thể hiểu các em đang có rắc rối gì để gỡ rối giúp".

Học sinh nhiễm bệnh lây truyền qua đường tình dục, nữ sinh cấp 3 đau đẻ tại lớp... Thực trạng này gióng lên hồi chuông báo động về việc giáo dục giới tính cho học sinh đang có nhiều lỗ hổng.

Giáo dục hời hợt

Theo khảo sát mới đây của Tổng cục Dân số kế hoạch hoá gia đình: Chỉ có 19% số học sinh, sinh viên tiếp nhận kiến thức về sức khoẻ sinh sản, sức khỏe tình dục trong nhà trường, 14% từ nhân viên y tế, 15% từ mẹ và 3% từ cha. 49% còn lại, các em tự tìm hiểu qua Internet, qua kinh nghiệm truyền miệng hoặc "mù" thông tin. Gần 74% học sinh và 85% phụ huynh cho rằng việc giáo dục giới tính (GDGT) trong trường học là rất cần thiết.


Cô Nguyễn Thị Hà - giáo viên dạy kỹ năng sống của Công ty Truyền thông và Đào tạo Hà Nội, người trực tiếp lên lớp nhiều chương trình GDGT tại các trường học, trên địa bàn thành phố cho biết: "GDGT hiện chưa được coi là môn học chính thức trong các trường học mà chủ yếu vẫn được lồng ghép ở các môn kỹ năng sống, giáo dục công dân, sinh học…".

Cũng theo cô Hà, nhiều giáo viên thường ngại ngùng khi đi sâu về các nội dung giảng dạy liên quan đến cơ thể nam nữ, sự khác biệt, ngay cả phương pháp phòng tránh thai, các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục cũng chỉ nói qua loa. Trong khi đó, học sinh thì tỏ ra thờ ơ với các tiết học như vậy.

Cô Trần Thị Thu - giáo viên Trường THPT Ninh Giang - Hải Dương vẫn không thể quên được cái chết thương tâm của cô học sinh lớp 10 của mình cách đây 2 năm: N.T.T yêu một học sinh lớp 12 cùng trường rồi có bầu, quá hoảng sợ, T đã uống thuốc trừ cỏ để… phá thai và phải đổi bằng cả tính mạng. "T là một học sinh khá giỏi, nếu có nhà trường định hướng, bố mẹ quan tâm và đặc biệt là được trang bị kiến thức về sức khoẻ sinh sản thì đã không có kết cục ấy".

Khó tiếp cận học sinh

Hiểu được tầm quan trọng của GDGT học đường, nhiều trường đã xây dựng phương pháp, mô hình dạy học tiên tiến nhằm lấp "lỗ hổng" cho học sinh. Là một trong những trường "hiếm hoi" có xây dựng riêng phòng tâm lý học đường dành cho học sinh, Trường THPT Đinh Tiên Hoàng (Hà Nội) nhiều năm nay đã "gỡ" được không ít ca khó về tâm lý, sức khoẻ, giới tính cho học sinh.

Trong đó có nhiều em có ẩn ức tâm lý, như nghiện phim sex, có nhiều bạn tình, bị lừa quan hệ tình dục… Tuy nhiên, ông Nguyễn Tùng Lâm - Hiệu trưởng nhà trường, Chủ tịch Hội Tâm lý giáo dục Hà Nội cũng thừa nhận: "Các em luôn có sự ngăn cách, ngại ngùng khi trò chuyện với giáo viên về các vấn đề của mình. Vì thế, ít khi thầy cô có thể hiểu các em đang có rắc rối gì để gỡ rối giúp".

Ông Đỗ Hoàng Minh - Phó Hiệu trưởng Trường THPT Ỷ La - TP. Tuyên Quang cũng cho biết, trường đã thành lập được Ban tư vấn sức khoẻ sinh sản vị thành niên và tổ chức nhiều hoạt động ngoại khoá sinh động và gần gũi chứ không tích hợp khô khan trong các môn học khác. Ông Minh cho rằng: "Bộ GDĐT cần đưa nội dung chăm sóc sức khoẻ sinh sản, giới tính thành môn học chính khoá, giúp học sinh có đủ kiến thức hơn về lĩnh vực này”.

Điểm tin giáo dục ngày 03-12

Tin nhanh giáo dục về việc bât ngờ ngưng trợ cấp cho giáo viên và học sinh vùng khó khăn tại sở giáo dục tỉnh Quảng Nam, đánh giá lại tình hình tuyển sinh đầu cấp tại Hà Nội..v..v..

Bất ngờ việc dừng hỗ trợ giáo viên vùng đặc biệt khó khăn

Hàng trăm giáo viên (GV) thuộc diện hợp đồng lao động tại Quảng Nam bị tạm dừng hỗ trợ theo Nghị định số 116/2010/NĐ-CP ngày 24.12.2010 của Chính phủ (dành cho  công chức, viên chức những xã thuộc vùng bãi ngang, ven biển, vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn).

Thông tin trên gây bất ngờ cho đối tượng thụ hưởng là hàng trăm giáo viên cùng cơ quan quản lý của địa phương. Tại TP.Tam Kỳ, đã có 76 GV diện hợp đồng lao động được chi trả hơn 1 tỉ đồng; UBND H.Núi Thành cũng chi hỗ trợ hơn 3 tỉ đồng cho 208 GV (tính đến tháng 7.2012). Tuy nhiên, cùng với một vài địa phương khác, việc chi trả này phải tạm dừng theo văn bản hướng dẫn của Sở Tài chính, thậm chí có nguy cơ phải hoàn trả nếu chi trả sai đối tượng. Sự việc này khiến toàn bộ giáo viên những khu vực này của Quảng Nam hết sức hoang mang, nhất là với tin "hoàn trả lại".

Thông tin “tạm dừng” này khiến lãnh đạo Sở GD-ĐT cũng bất ngờ. Trao đổi với Thanh Niên, ông Nguyễn Tấn Thắng - Giám đốc Sở GD-ĐT tỉnh Quảng Nam cho biết, do phân cấp quản lý cho tuyến huyện nên việc chi trả, tạm dừng… chưa được phản ánh lên sở. Ông Thắng khẳng định, ngành Giáo dục sẽ vào cuộc tìm hiểu ngay trong tuần sau, và nếu quyền lợi của GV bị xâm phạm thì ngành sẽ can thiệp. Theo tìm hiểu, các địa phương căn cứ thông tư hướng dẫn của liên bộ Nội vụ và Tài chính (ban hành ngày 31.8.2011) để thực hiện chi trả cho GV hợp đồng dài hạn. Trong khi đó, văn bản của Sở Tài chính chỉ hướng dẫn giải quyết cho người lao động là công chức, viên chức và hợp đồng lao động xếp lương theo Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 22.10.2004 của Chính phủ; riêng đối tượng hợp đồng lao động phục vụ chuyên môn nghiệp vụ dài hạn, hợp đồng vụ việc khác thì chưa thực hiện, chờ văn bản hướng dẫn của Bộ Tài chính và Bộ Nội vụ.

Liên quan đến chế độ hỗ trợ này, Thanh Niên đã từng phản ánh bức xúc của GV bậc THPT ở Quảng Nam bị chậm chi trả (“Chậm chi trả chế độ 116 cho giáo viên”, ngày 2.8.2012), đã được Sở Tài chính trả lời sẽ sớm giải quyết sau khi yêu cầu bổ sung liên quan.

Hà Nội: Đánh giá, rút kinh nghiệm về tuyển sinh đầu cấp

Sở GD-ĐT Hà Nội vừa có văn bản yêu cầu các Trưởng phòng GD-ĐT các quận, huyện, thị xã báo cáo kết quả công tác tuyển sinh vào các lớp đầu cấp năm học 2012-2013.

Các nội dung báo cáo bao gồm công tác điều tra số trẻ ở từng độ tuổi trên địa bàn theo phân công của Ủy ban nhân dân quận, huyện, thị xã; Công tác phân tuyến tuyển sinh; Công tác tuyên truyền và chuẩn bị các điều kiện cho công tác tuyển sinh; Kết quả tuyển sinh; Đối với những trường có số học sinh/lớp vượt so với Điều lệ trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở phải nêu rõ lý do, biện pháp khắc phục tình trạng sĩ số quá đông gây bức xúc cho cha mẹ học sinh; Các đề xuất, kiến nghị đối với cơ quan quản lý các cấp.

Công văn nhấn mạnh, mỗi nội dung báo cáo cần phải nêu rõ ưu điểm, tồn tại và biện pháp khắc phục những tồn tại, yếu kém.

Sở GD-ĐT cũng đề nghị các đơn vị thực hiện nghiêm túc báo cáo trung thực, đầy đủ, rõ ràng về các nội dung nêu trên, để thông qua đó kịp thời rút kinh nghiệm và đề ra các biện pháp khắc phục những tồn tại, yếu kém nhằm thực hiện tốt hơn công tác tuyển sinh vào các lớp đầu cấp ở những năm học tiếp theo.

Tuyển sinh 2012: Vì sao cả trường công và trường tư đều khó tuyển?

Vì sao nhiều trường gặp khó trong tuyển sinh năm 2012? Một là có thể trường chưa đủ uy tín để hút được thí sinh. Hai là những ngành nghề đào tạo của các trường này không phải là ngành “nóng” nữa.

Năm nay việc nhiều trường tuyển sinh gặp nhiều khó khăn chưa hẳn là do cơ cấu ngành nghề mà cần phải xem xét lại vấn đề vĩ mô đối với những thay đổi của Bộ GD-ĐT. Đó là nhận định của GS Trần Hồng Quân -Chủ tịch Hiệp hội các trường ĐH, CĐ ngoài công lập.

Vì sao cả trường tư lẫn công đều gặp khó?

Mặc dù Bộ GD-ĐT đã đưa ra những quy định mới để tạo điều kiện cho các trường tuyển đủ chỉ tiêu nhưng thực tế thì hoàn toàn ngược lại. Sự “hỗn loạn” trong tuyển sinh khiến nhiều trường ngoài công lập (NCL) đành “ngậm đắng nuốt cay” tạm thời ngừng mở nhiều ngành, thậm chí có trường có số lượng sinh viên trong cả đợt xét tuyển không đủ mở một lớp như ĐH Phan Châu Trinh.
Giải thích về “nghịch lý” này, GS Trần Hữu Nghị - hiệu trưởng Trường ĐH dân lập Hải Phòng phân tích: “Tôi có thể khẳng định việc nhiều trường không tuyển được như các năm về trước xuất phát từ nguyên nhân Bộ GD-ĐT thay đổi một quy định trong xét tuyển. Ở đây là do nguồn tuyển không có nên việc kéo dài cũng không giải quyết được vấn đề. Việc nguồn tuyển không đáp ứng được cho các trường là do khâu xác định điểm sàn chưa sát với thực tế”.
GS Nghị cũng cho rằng, nếu như trước kia việc Bộ GD-ĐT quy định điểm chuẩn nguyện vọng (NV) sau không được thấp hơn so với NV trước nên tạo hành lang pháp lý để trường công lập không thể “lấn sân” về phía sau. Tuy nhiên, với việc năm nay bỏ quy định này, cho phép trường công lập hạ điểm chuẩn thấp hơn NV trước thậm chí là sát sàn để “vớt” thí sinh thì điều này hẳn nhiên sẽ gây khó khăn cho các trường tốp dưới, đặc biệt là trường NCL.
“Không cần phân tích thì ai cũng hiểu lợi thế của trường công. Với mức chi phí đào tạo thấp hơn cùng với những lợi ích đi kèm thì hẳn nhiên khi có cơ hội các em đều cố gắng tìm đến trường công. Với việc tạo cơ hội cho trường công lấy đủ hoặc dư chỉ tiêu nên có hiện tượng nhiều em đã nhập học trường tốp dưới hoặc NCL nhưng khi trường tốp trên hạ điểm chuẩn thì rút hồ sơ về nhập học” - GS Nghị nói.

“Theo quan điểm của tôi thì có rất nhiều lý do dẫn đến việc các trường gặp khó trong tuyển sinh. Một là có thể trường chưa đủ uy tín để hút được thí sinh. Hai là những ngành nghề đào tạo của các trường này không phải là ngành “nóng” nữa. Ba là trong tình hình kinh tế các gia đình cũng khó khăn nên việc cho con đi học vào những ngành mà dự kiến sau này cảm thấy khó tìm được việc làm nên họ chần chừ và cân nhắc. Một vấn đề quan trọng khác là các thông tin về tuyển dụng trong thời gian qua cũng gây tác động tâm lý nhất định đến gia đình thí sinh” - Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Bùi Văn Ga

Không giới hạn thời gian xét tuyển sẽ gây rối loạn

Cũng theo GS Nghị, một trong những yếu tố gây “rối loạn” trong khâu xét tuyển năm nay là Bộ GD-ĐT không giới hạn thời gian xét tuyển từng đợt, lại “mở cửa” cho việc làm hồ sơ xét tuyển bằng cách có thể nộp bản sao vào nhiều trường.
Một cán bộ tuyển sinh của Trường ĐH Thành Đô cho biết: “Nỗ lực nhiều mặt nhà trường mới cố gắng tuyển được khoảng 50% chỉ tiêu đề ra. So với các năm trước thì năm nay gặp rất nhiều khó khăn, nhất là khâu nhận hồ sơ xét tuyển không có bản gốc. Có lúc nhận hàng trăm hồ sơ xét tuyển gửi về nhưng số thực tế đến nhập học thì lại quá ít”.
Cán bộ này cũng phân tích thêm: Nếu mọi năm thống nhất về thời gian xét tuyển nên thí sinh có cơ hội nhìn tổng quát được các trường còn thiếu chỉ tiêu. Năm nay mỗi trường quy định mỗi kiểu nên mạnh ai người ấy làm khiến cho công tác tuyển sinh xáo trộn.
Đồng quan điểm này, GS Trần Hồng Quân - Chủ tịch Hiệp hội các trường ĐH, CĐ NCL phân tích thêm, lãnh đạo Bộ GD-ĐT cho rằng là do cơ cấu ngành nghề bất cập nên dẫn đến hiện tượng không tuyển được thí sinh nhưng nếu nhìn tổng quan thì không hẳn vậy. Không đơn thuần là các ngành khối Kinh tế gặp khó khăn trong việc “hút” thí sinh mà nhiều ngành khác cũng lâm vào tình cảnh tương tự. Như vậy ở đây cần phải phân tích đánh giá lại các thay đổi của Bộ GD-ĐT trong năm vừa qua. Riêng về vấn đề điểm sàn cần phải xác định lại bởi khâu xây dựng hiện nay có nhiều điểm bất hợp lý.

Khống chế điểm sàn phải ở mức hợp lý

GS Trần Hữu Nghị phân tích: Tại sao điểm sàn cứ phải dao động trong phạm vi 13-15 điểm? Tôi nghĩ điểm sàn có thể cao hoặc thấp hơn tùy vào mức độ khó của đề thi. Nhiều em dự thi ĐH không đạt được mức điểm sàn của Bộ GD-ĐT nhưng khi đi du học vẫn học tập có kết quả tốt. Qua đó cho thấy việc đánh giá qua thi cử của chúng ta là chưa phù hợp.

“Chúng tôi đang thử hỏi là tại sao Bộ GD-ĐT khi xây dựng điểm sàn không lấy độ dôi lớn so với chỉ tiêu để tạo điều kiện cho các trường tuyển đủ. Việc lấy dôi ra không có gì ảnh hưởng đến công tác tuyển sinh bởi các trường vẫn xét tuyển theo nguyên tắc từ cao xuống thấp” - GS Nghị đặt vấn đề.

GS Trần Hồng Quân bộc bạch thêm: “Trên thực tế, dù số lượng thí sinh đạt trên điểm sàn nhiều hơn tổng chỉ tiêu tuyển sinh, song do sự phân bố không đồng đều giữa các vùng miền, nhiều địa phương khó khăn vẫn không đủ nguồn tuyển, ảnh hưởng tới việc đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương”.

Cũng theo GS Quân thì kiến nghị cách đây 2 năm của Hiệp hội các trường ĐH, CĐ NCL rõ ràng là hợp lý vào thời điểm hiện tại nên thời gian tới khối này sẽ họp bàn để xem xét lại các vấn đề sau đó làm việc với Bộ GD-ĐT để tìm phương án giải quyết. Nếu cứ kéo dài tình trạng này như hiện nay thì chắc chắn các trường NCL sẽ khó tồn tại trong thời gian tới.

Một cán bộ tuyển sinh lâu năm cũng cho rằng không nên “quy chụp” do chất lượng đào tạo chưa tốt dẫn đến không tuyển được thí sinh. Ở đây phải thẳng thắn nhìn vào sự thật đó là các trường NCL không nhận được sự hỗ trợ của nhà nước do đó muốn có sự bền vững thì cần phải có thời gian. Chính vì thế Bộ GD-ĐT cần có cơ chế để hỗ trợ cho các trường gặp khó khăn.

“Tôi cũng đã khảo sát một số trường NCL mà tuyển sinh năm nào cũng tốt và nhận thấy rằng sở dĩ họ làm được điều này là do có nền tảng đội ngũ giảng viên tốt do hình thành từ việc nâng cấp từ CĐ lên ĐH. Bên cạnh đó, họ chú trọng khâu đầu ra để đảm bảo sinh viên có việc làm. Yếu tố cuối cùng mới là cơ sở vật chất. Tuy nhiên ở đây không phải trường nào làm được việc này bởi xuất phát điểm của có là xây dựng ĐH ngay” - cán bộ tuyển sinh này cho biết.

Nghiên cứu khoa học trong trường đại học với những bước tiến ì ạch

Một tổng hợp khác từ báo cáo của 34 trường ĐH giai đoạn 2006 - 2009 cho thấy, các trường chỉ có 248 đề tài cấp nhà nước; 1.823 đề tài cấp bộ; 5.505 đề tài cấp trường. Nghĩa là trong một năm, trung bình một trường chỉ thực hiện được khoảng 2 đề tài cấp nhà nước...

Vật vờ nghiên cứu khoa học

Nhiều năm qua, mỗi năm nhà nước chi 2% ngân sách (khoảng 13 tỉ đồng) cho nghiên cứu khoa học -  tỷ lệ này không thấp so với một số quốc gia có nền khoa học phát triển. Thế nhưng do nhiều nguyên nhân khác nhau, nghiên cứu khoa học của Việt Nam vẫn chưa tương xứng với sự đầu tư đó.

Yếu và thiếu

Theo GS Nguyễn Văn Tuấn, Trường ĐH New South Wales (Úc), dựa trên bảng xếp hạng của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (World Intellectual Property Organization - WIPO) Việt Nam đứng hạng 76 trên 141 nước về khả năng sáng tạo và cách tân. Thứ hạng của Malaysia là 65, Thái Lan là 57, và Singapore 3. Theo báo cáo của UNESCO giai đoạn 2000 - 2007, các nhà khoa học Việt Nam đăng ký được 19 bằng sáng chế, tức mỗi năm trung bình chỉ 2 bằng sáng chế, có năm không có bằng sáng chế nào.

Các chỉ số kinh tế tri thức của Việt Nam cũng thấp hơn so với các nước trong vùng. Cũng theo báo cáo của UNESCO năm 2011, Việt Nam đứng hạng 106 trên 145 về kinh tế tri thức. So với năm 1995, thứ hạng của Việt Nam tăng 14 bậc. Song so với các nước tương đương trong vùng, kinh tế tri thức của Việt Nam thấp nhất (Indonesia hạng 103, Philippines hạng 89, Thái Lan 63, Malaysia 48 và Singapore hạng 19). Việt Nam thậm chí còn ở thứ hạng thấp hơn cả Fiji (hạng 86). Đấy là chưa kể chúng ta chưa có ĐH nào nằm trong danh sách ĐH hàng đầu thế giới. Trong khi, riêng khối ASEAN, 11 trường thuộc 5 nước: Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philippines và Singapore có tên trong danh sách “Top 400”.


Tính trên việc nguyên cứu khoa học (NCKH) ở tầm quốc gia, các đề tài còn rất thiếu. Báo cáo của Bộ Khoa học - Công nghệ cho thấy tuy ngân sách nhà nước dành 2% tổng chi cho NCKH nhưng tiền luôn nằm trong kho bạc và thường không sử dụng được hết nên đành phải trả lại.
Giảng viên thờ ơ
NCKH là nhiệm vụ bắt buộc của giảng viên. Tuy nhiên, công việc này của giảng viên hiện đang ở mức báo động.

Theo số liệu tổng hợp từ Trường ĐH Sư phạm kỹ thuật TP.HCM, trong số 512 giảng viên của trường thì chỉ có 173 người đạt định mức lao động NCKH. Điều đáng nói, trong số 339 giảng viên không đạt định mức thì có tới 306 người số giờ nghiên cứu khoa học bằng 0, tức không tham gia hoạt động nghiên cứu nào.

PGS-TS Phạm Đình Nghiệm, Trưởng phòng Quản lý khoa học - dự án Trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn TP.HCM, cho biết: “Việc nghiên cứu khoa học trong giảng viên hiện nay chưa đều, với giảng viên là giáo sư, phó giáo sư thì năm nào cũng có công trình. Ngược lại, cũng có nhiều giảng viên chưa dành thời gian cho NCKH”. Tiến sĩ Ung Thị Minh Lệ, Phó trưởng phòng Quản lý khoa học Trường ĐH Kinh tế TP.HCM, cũng cho hay: “Trong số khoảng 600 giảng viên cơ hữu của trường mỗi năm có khoảng 2/3 giảng viên tham gia hoạt động NCKH và đáp ứng định mức thời gian theo quy định”. GS-TS Đào Văn Lượng, Hiệu trưởng Trường ĐH Công nghệ Sài Gòn, khẳng định: “Hiện tại trường chỉ có khoảng 5% trong tổng số giảng viên thực sự dành thời gian cho NCKH và mang lại những hiệu quả cụ thể”.

Chạy theo phong trào
Chính vì thực trạng này mà theo báo cáo của Vụ Khoa học - Công nghệ và Môi trường, Bộ GD-ĐT qua số liệu từ 40 trường ĐH trong cả nước tính đến cuối năm 2009, tỷ lệ nguồn thu từ hoạt động KHCN trong tổng nguồn tài chính của các trường là 3,92%. So với Nghị quyết của Chính phủ mới chỉ bằng 26% mục tiêu đề ra. Trong nguồn thu này, các trường thuộc khối kỹ thuật công nghệ chiếm tới 77,28%, tiếp đến là khối các ĐH, còn các khối khác chiếm một tỷ lệ rất nhỏ, đặc biệt khối trường kinh tế chưa có nguồn thu từ hoạt động triển khai, chuyển giao công nghệ và bán sản phẩm. Đối với các trường ĐH địa phương, ngoài doanh thu từ hoạt động triển khai và chuyển giao kết quả nghiên cứu bằng không, đóng góp trực tiếp vào ngân sách nhà nước của các trường này cũng bằng không.

Một tổng hợp khác từ báo cáo của 34 trường ĐH giai đoạn 2006 - 2009 cho thấy, các trường chỉ có 248 đề tài cấp nhà nước; 1.823 đề tài cấp bộ; 5.505 đề tài cấp trường. Nghĩa là trong một năm, trung bình một trường chỉ thực hiện được khoảng 2 đề tài cấp nhà nước, 17 đề tài cấp bộ và 54 đề tài cấp trường. Đó là chưa kể trong số này còn có nhiều đề tài “cắt dán”, thiếu tầm vóc. Hiệu trưởng một trường ĐH lớn tại TP.HCM, từng là giám khảo nhiều cuộc thi có liên quan đến NCKH, thẳng thắn: “Hiện nay rất nhiều trường ĐH tuyên bố đẩy mạnh NCKH. Tuy nhiên, rất nhiều trường trong số đó chỉ làm theo phong trào, chạy theo số lượng chứ không hẳn là chất lượng”.

Khan hiếm bài báo khoa học quốc tế

Bài báo được đăng tải trên tạp chí khoa học quốc tế có thể nói là kết quả cao nhất trong các hoạt động NCKH của giảng viên. Tuy nhiên, phần lớn các trường không có vinh dự này.

Được xem là một trong những ĐH mạnh về NCKH thế nhưng, trong năm 2011 cả ĐH Quốc gia TP.HCM có 773 bài được đăng trên các tạp chí và kỷ yếu, trong đó chỉ có 173 bài được đăng trên các tạp chí quốc tế với 142 bài thuộc danh sách ISI (Viện Thông tin khoa học). Trong đó, chưa có bài nào về lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn nằm trong danh sách ISI. Trường ĐH Quốc tế có tỷ lệ cao nhất trong hệ thống các trường thành viên của ĐH Quốc gia TP.HCM với số bài báo khoa học quốc tế/tiến sĩ năm 2011 là 0,77. Mỗi năm, Trường ĐH Kinh tế TP.HCM cũng có trung bình khoảng 13 bài báo được đăng trên tạp chí khoa học quốc tế.

Tại hội thảo khoa học quốc tế diễn ra tại TP.HCM cuối năm 2011, GS-TS Nguyễn Văn Tuấn, nhận xét: “Một điều rất nghịch lý ở Việt Nam là các nghiên cứu về khoa học xã hội hiện diện trên các tạp chí trong nước rất nhiều nhưng lại xuất hiện rất ít trên các tạp chí khoa học quốc tế. Ví dụ, năm 2004 có tới 8.408 bài báo khoa học được đăng trên tạp chí và kỷ yếu trong nước thì có đến 4.345 bài về khoa học xã hội. Trong đó chưa tới 10 bài đăng trên tạp chí khoa học quốc tế. Thống kê giai đoạn 1996 - 2005 cho thấy, trong tổng số 3.456 bài báo khoa học từ Việt Nam trên các tạp chí quốc tế chỉ có 69 bài (chiếm khoảng 2%) liên quan đến khoa học xã hội”.

Tách rời giảng dạy và nghiên cứu

Tại hội nghị “Giáo dục ĐH Việt Nam hội nhập quốc tế” (diễn ra ngày 9.11, tại ĐH Quốc gia TPHCM), các đại biểu cho rằng một trong những nguyên nhân dẫn đến những thách thức lớn đối với sự phát triển của khoa học - công nghệ là sự tách rời giữa các trường ĐH và các viện nghiên cứu. Hiện nay có đến 71 viện nghiên cứu được phép đào tạo bậc thạc sĩ và cấp bằng tiến sĩ trực thuộc chính phủ và các bộ ngành khác nhau nhưng lại không có dính dáng gì với các trường ĐH.

Gần đây, nhà nước kêu gọi sự gắn kết hơn nữa giữa các trường ĐH và viện nghiên cứu nhưng do chưa có hành lang pháp lý phù hợp cũng như chưa có cơ chế khuyến khích nên việc hợp tác này cũng chỉ mới dừng lại ở việc trao đổi cán bộ thỉnh giảng. Một số ý kiến đề xuất sáp nhập các viện nghiên cứu vào các trường ĐH để nâng cao năng lực và tận dụng nguồn lực hiện có nhưng việc này không thể thực hiện được vì vấp phải sự phản ứng gay gắt của các viện. Theo GS Martin Hayden (người Úc), lãnh đạo nhóm tư vấn quốc tế cho Bộ GD-ĐT Việt Nam, tác động của việc thiếu mối gắn kết mạnh mẽ giữa giảng dạy với nghiên cứu dẫn đến kết quả hoạt động NCKH của Việt Nam nghèo nàn so với các nước trong vùng.

Trong số khoảng 600 giảng viên cơ hữu của trường mỗi năm có khoảng 2/3 giảng viên tham gia hoạt động nguyên cứu khoa học và đáp ứng định mức thời gian theo quy định

Tiến sĩ Ung Thị Minh Lệ
Phó trưởng phòng Quản lý khoa học Trường ĐH Kinh tế TP.HCM

Trung tâm đào tạo quốc tế SIBME vẫn hoạt động dù bị rút phép lần thứ 2

Việc cấp giấy phép trú đóng cho một trung tâm tiền thân là SIBME đã bị rút giấy phép hoạt động đào tạo, lại không đúng về quy định là rất khó hiểu!? Trong khi đó, việc tồn tại của trung tâm này cũng chưa có sự đồng ý của Bộ GD-ĐT cũng như Sở GD-ĐT TP.HCM.

Hai lần bị rút giấy phép nhưng vẫn “chạy” để đào tạo

Sau khi Công ty TNHH đào tạo công nghệ thông tin và quản trị kinh doanh Singapore (SIBME) bị Sở GD-ĐT và Sở LĐ-TB-XH TP.HCM rút các giấy phép đào tạo, cơ sở này đang tiếp tục hoạt động sai trái dưới danh nghĩa khác để thu tiền học viên.

Ngày 3.12, Phòng Thanh tra phía nam, Bộ GD-ĐT nhận được đơn tố cáo của một số học viên tại SIBME. Theo đó, các học viên này cho biết ngày 19.10, Tổng giám đốc SIBME Kesavan Nair Sukumaran có gửi thư cho phụ huynh và học viên, trong đó, có nội dung cơ sở này đã trở thành trung tâm đào tạo quốc tế SIBME. Trong những ngày vừa qua, trung tâm này bắt đầu tổ chức thu tiền của học viên đăng ký cho các khóa học mới. Trong thư này cũng giới thiệu con dấu mới của trung tâm, trong đó viền ngoài thể hiện cơ quan quản lý là Bộ GD-ĐT, Trường ĐH Công nghệ và quản lý Hữu Nghị và bên trong là Trung tâm đào tạo quốc tế SIBME.


Trả lời Báo Thanh Niên, ông Nguyễn Huy Bằng - Chánh thanh tra Bộ GD-ĐT, cho biết: “Vừa qua, Công ty SIBME và một số đơn vị khác có nhiều hoạt động trái pháp luật, vì vậy Bộ không những xử phạt đến 2 lần mà còn đề nghị rút giấy phép của đơn vị này. Việc Trường ĐH Công nghệ và quản lý Hữu Nghị thành lập trung tâm đào tạo là sai quy định của Bộ, vì trung tâm không có tư cách pháp nhân nên không thể hoạt động độc lập, đặt ở bên ngoài trường ĐH được. Chưa kể việc này có liên quan đến yếu tố nước ngoài thì cũng phải xin phép Bộ GD-ĐT. Chúng tôi sẽ yêu cầu Trường ĐH Công nghệ và quản lý Hữu Nghị báo cáo gấp việc này. Về thông tin con dấu của trung tâm này, chúng tôi sẽ kiểm tra, xem xét và nếu đúng như phản ánh sẽ sớm đề nghị UBND TP.HCM thu hồi vì đây là con dấu sai quy định. Việc hoạt động của các cơ sở giáo dục phải đúng pháp luật để người dân được hưởng dịch vụ giáo dục đúng như mong muốn. Học viên không nên đăng ký học trong thời điểm một đơn vị vẫn còn nhiều khuất tất, kẻo lâm vào cảnh tiền mất tật mang”.

Theo tìm hiểu của PV Thanh Niên, trước đó Sở Nội vụ TP.HCM đã cấp Giấy phép thỏa thuận trú đóng cho Trung tâm đào tạo quốc tế SIBME. Đây là tiền đề để nơi này có con dấu nói trên. Việc cấp giấy phép trú đóng cho một trung tâm tiền thân là SIBME đã bị rút giấy phép hoạt động đào tạo, lại không đúng về quy định là rất khó hiểu!? Trong khi đó, việc tồn tại của trung tâm này cũng chưa có sự đồng ý của Bộ GD-ĐT cũng như Sở GD-ĐT TP.HCM.

Trước đó, ngày 16.11, Sở GD-ĐT TP.HCM đã thành lập đoàn kiểm tra (có sự tham gia của Sở Nội vụ) để kiểm tra Trung tâm đào tạo quốc tế SIBME khi biết thông tin có việc chuyển đổi này. Đoàn kiểm tra đã đề nghị trung tâm không được triển khai tổ chức hoạt động giáo dục, đào tạo khi chưa có phép. Sở GD-ĐT cũng đã có ý kiến đề nghị Sở Nội vụ xem xét rút giấy phép thỏa thuận trú đóng của Trung tâm đào tạo quốc tế SIBME vì đã tổ chức hoạt động liên quan đến giáo dục đào tạo khi chưa được các cơ quan hữu quan cấp phép đăng ký hoạt động theo quy định.

Tuyển sinh 2013 có còn tiếp diễn tình trạng khó tuyển sinh

Cũng theo GS Nghị, một trong những yếu tố gây “rối loạn” trong khâu xét tuyển năm nay là Bộ GD-ĐT không giới hạn thời gian xét tuyển từng đợt, lại “mở cửa” cho việc làm hồ sơ xét tuyển bằng cách có thể nộp bản sao vào nhiều trường.

Vì sao nhiều trường gặp khó trong tuyển sinh năm 2012?

Năm nay việc nhiều trường tuyển sinh gặp nhiều khó khăn chưa hẳn là do cơ cấu ngành nghề mà cần phải xem xét lại vấn đề vĩ mô đối với những thay đổi của Bộ GD-ĐT. Đó là nhận định của GS Trần Hồng Quân -Chủ tịch Hiệp hội các trường ĐH, CĐ ngoài công lập.

Vì sao cả trường tư lẫn công đều gặp khó?

Mặc dù Bộ GD-ĐT đã đưa ra những quy định mới để tạo điều kiện cho các trường tuyển đủ chỉ tiêu nhưng thực tế thì hoàn toàn ngược lại. Sự “hỗn loạn” trong tuyển sinh khiến nhiều trường ngoài công lập (NCL) đành “ngậm đắng nuốt cay” tạm thời ngừng mở nhiều ngành, thậm chí có trường có số lượng sinh viên trong cả đợt xét tuyển không đủ mở một lớp như ĐH Phan Châu Trinh.

Giải thích về “nghịch lý” này, GS Trần Hữu Nghị - hiệu trưởng Trường ĐH dân lập Hải Phòng phân tích: “Tôi có thể khẳng định việc nhiều trường không tuyển được như các năm về trước xuất phát từ nguyên nhân Bộ GD-ĐT thay đổi một quy định trong xét tuyển. Ở đây là do nguồn tuyển không có nên việc kéo dài cũng không giải quyết được vấn đề. Việc nguồn tuyển không đáp ứng được cho các trường là do khâu xác định điểm sàn chưa sát với thực tế”.


GS Nghị cũng cho rằng, nếu như trước kia việc Bộ GD-ĐT quy định điểm chuẩn nguyện vọng (NV) sau không được thấp hơn so với NV trước nên tạo hành lang pháp lý để trường công lập không thể “lấn sân” về phía sau. Tuy nhiên, với việc năm nay bỏ quy định này, cho phép trường công lập hạ điểm chuẩn thấp hơn NV trước thậm chí là sát sàn để “vớt” thí sinh thì điều này hẳn nhiên sẽ gây khó khăn cho các trường tốp dưới, đặc biệt là trường NCL.

“Không cần phân tích thì ai cũng hiểu lợi thế của trường công. Với mức chi phí đào tạo thấp hơn cùng với những lợi ích đi kèm thì hẳn nhiên khi có cơ hội các em đều cố gắng tìm đến trường công. Với việc tạo cơ hội cho trường công lấy đủ hoặc dư chỉ tiêu nên có hiện tượng nhiều em đã nhập học trường tốp dưới hoặc NCL nhưng khi trường tốp trên hạ điểm chuẩn thì rút hồ sơ về nhập học” - GS Nghị nói.

Cũng theo GS Nghị, một trong những yếu tố gây “rối loạn” trong khâu xét tuyển năm nay là Bộ GD-ĐT không giới hạn thời gian xét tuyển từng đợt, lại “mở cửa” cho việc làm hồ sơ xét tuyển bằng cách có thể nộp bản sao vào nhiều trường.

Một cán bộ tuyển sinh của Trường ĐH Thành Đô cho biết: “Nỗ lực nhiều mặt nhà trường mới cố gắng tuyển được khoảng 50% chỉ tiêu đề ra. So với các năm trước thì năm nay gặp rất nhiều khó khăn, nhất là khâu nhận hồ sơ xét tuyển không có bản gốc. Có lúc nhận hàng trăm hồ sơ xét tuyển gửi về nhưng số thực tế đến nhập học thì lại quá ít”.
Cán bộ này cũng phân tích thêm: Nếu mọi năm thống nhất về thời gian xét tuyển nên thí sinh có cơ hội nhìn tổng quát được các trường còn thiếu chỉ tiêu. Năm nay mỗi trường quy định mỗi kiểu nên mạnh ai người ấy làm khiến cho công tác tuyển sinh xáo trộn.

Đồng quan điểm này, GS Trần Hồng Quân - Chủ tịch Hiệp hội các trường ĐH, CĐ NCL phân tích thêm, lãnh đạo Bộ GD-ĐT cho rằng là do cơ cấu ngành nghề bất cập nên dẫn đến hiện tượng không tuyển được thí sinh nhưng nếu nhìn tổng quan thì không hẳn vậy. Không đơn thuần là các ngành khối Kinh tế gặp khó khăn trong việc “hút” thí sinh mà nhiều ngành khác cũng lâm vào tình cảnh tương tự. Như vậy ở đây cần phải phân tích đánh giá lại các thay đổi của Bộ GD-ĐT trong năm vừa qua. Riêng về vấn đề điểm sàn cần phải xác định lại bởi khâu xây dựng hiện nay có nhiều điểm bất hợp lý.

Khống chế điểm sàn phải ở mức hợp lý
GS Trần Hữu Nghị phân tích: Tại sao điểm sàn cứ phải dao động trong phạm vi 13-15 điểm? Tôi nghĩ điểm sàn có thể cao hoặc thấp hơn tùy vào mức độ khó của đề thi. Nhiều em dự thi ĐH không đạt được mức điểm sàn của Bộ GD-ĐT nhưng khi đi du học vẫn học tập có kết quả tốt. Qua đó cho thấy việc đánh giá qua thi cử của chúng ta là chưa phù hợp.

“Chúng tôi đang thử hỏi là tại sao Bộ GD-ĐT khi xây dựng điểm sàn không lấy độ dôi lớn so với chỉ tiêu để tạo điều kiện cho các trường tuyển đủ. Việc lấy dôi ra không có gì ảnh hưởng đến công tác tuyển sinh bởi các trường vẫn xét tuyển theo nguyên tắc từ cao xuống thấp” - GS Nghị đặt vấn đề.

GS Trần Hồng Quân bộc bạch thêm: “Trên thực tế, dù số lượng thí sinh đạt trên điểm sàn nhiều hơn tổng chỉ tiêu tuyển sinh, song do sự phân bố không đồng đều giữa các vùng miền, nhiều địa phương khó khăn vẫn không đủ nguồn tuyển, ảnh hưởng tới việc đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương”.

Cũng theo GS Quân thì kiến nghị cách đây 2 năm của Hiệp hội các trường ĐH, CĐ NCL rõ ràng là hợp lý vào thời điểm hiện tại nên thời gian tới khối này sẽ họp bàn để xem xét lại các vấn đề sau đó làm việc với Bộ GD-ĐT để tìm phương án giải quyết. Nếu cứ kéo dài tình trạng này như hiện nay thì chắc chắn các trường NCL sẽ khó tồn tại trong thời gian tới.

Một cán bộ tuyển sinh lâu năm cũng cho rằng không nên “quy chụp” do chất lượng đào tạo chưa tốt dẫn đến không tuyển được thí sinh. Ở đây phải thẳng thắn nhìn vào sự thật đó là các trường NCL không nhận được sự hỗ trợ của nhà nước do đó muốn có sự bền vững thì cần phải có thời gian. Chính vì thế Bộ GD-ĐT cần có cơ chế để hỗ trợ cho các trường gặp khó khăn.

“Tôi cũng đã khảo sát một số trường NCL mà tuyển sinh năm nào cũng tốt và nhận thấy rằng sở dĩ họ làm được điều này là do có nền tảng đội ngũ giảng viên tốt do hình thành từ việc nâng cấp từ CĐ lên ĐH. Bên cạnh đó, họ chú trọng khâu đầu ra để đảm bảo sinh viên có việc làm. Yếu tố cuối cùng mới là cơ sở vật chất. Tuy nhiên ở đây không phải trường nào làm được việc này bởi xuất phát điểm của có là xây dựng ĐH ngay” - cán bộ tuyển sinh này cho biết.

Tuyển sinh không đảm bảo do số lượng trường quá nhiều?

Vậy thì tình trạng khó khăn trong tuyển sinh đã gửi đi một tín hiệu báo động cho tất cả các trường đại học, và xét về mặt này, hiện tượng đó có ý nghĩa tích cực. Nó khiến cho tất cả các trường công lập và ngoài công lập đều phải nhìn lại sứ mạng, chương trình đào tạo...

Nhiều người cho rằng tình trạng tuyển sinh khó khăn là hậu quả của việc mở trường tràn lan. 412 trường ĐH, CĐ cho 90 triệu dân Việt Nam là nhiều hay là ít? So với Trung Quốc có hơn 4.000 trường ĐH, CĐ trên 1,3 tỉ dân, so với Singapore có khoảng 68 trường ĐH, CĐ trên 3 triệu dân...

Bất cập của chính sách hay sự sàng lọc của thị trường?

Trong khi giới chuyên môn còn đang thảo luận với nhiều ý kiến trái chiều về “thị trường giáo dục” thì đào tạo đại học ở Việt Nam đã và đang tồn tại như một thị trường cạnh tranh quyết liệt, tuy chưa hẳn là một thị trường cạnh tranh tự do và bình đẳng.

Nhiều người cho rằng tình trạng tuyển sinh khó khăn là hậu quả của việc mở trường tràn lan. 412 trường ĐH, CĐ cho 90 triệu dân Việt Nam là nhiều hay là ít? So với Trung Quốc có hơn 4.000 trường ĐH, CĐ trên 1,3 tỉ dân, so với Singapore có khoảng 68 trường ĐH, CĐ trên 3 triệu dân (bao gồm cả các trường nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ Singapore, các trường liên kết quốc tế, các viện nghiên cứu đào tạo cấp bằng cử nhân và sau ĐH); so với Hoa Kỳ có 4.495 trường ĐH, CĐ trên 314 triệu dân... thì số trường ĐH, CĐ mà Việt Nam đang có không phải là nhiều.


Tất nhiên mọi so sánh đều khập khiễng vì để nói là nhiều hay ít thì không thể chỉ dựa trên con số tuyệt đối mà còn phải dựa vào nhiều yếu tố khác như trình độ phát triển kinh tế xã hội, GDP đầu người, mức độ quốc tế hóa của hệ thống giáo dục đại học... Tuy vậy, những con số trên cho chúng ta một gợi ý là vấn đề không nằm ở số lượng, mà chủ yếu là chất lượng.

Đối với người học và gia đình, hiển nhiên chi phí học ĐH là một sự đầu tư cho tương lai. Đã là đầu tư, lại đầu tư bằng tiền mồ hôi nước mắt của mình, dĩ nhiên ai cũng phải tính đến hiệu quả. Chi phí trung bình của một sinh viên tại ĐH công lập là 560.000 đồng/tháng và ngoài công lập là 2.395.980 đồng/tháng, chiếm 97% hoặc 122% (tùy theo trường công lập/ngoài công lập) thu nhập bình quân đầu người trong gia đình của nhóm thu nhập thấp, và chiếm 38,5% hoặc 58,6% của nhóm thu nhập trung bình (Dựa trên kết quả nghiên cứu của TS. Nguyễn Ngọc Anh và đồng sự “Cơ chế phân bổ ngân sách cho GDĐH công lập, hiện trạng và khuyến nghị” (2012).

Vậy thì người học phải đắn đo cân nhắc học trường nào là điều dễ hiểu, nhất là với câu hỏi, khả năng tìm được việc làm và triển vọng thu nhập sau khi ra trường sẽ như thế nào?

Các trường ngoài công lập đang trách móc các trường công lập đã vét sạch nguồn thí sinh của họ, tận thu luôn cả hệ cao đẳng với chính sách tuyển sinh thuận lợi, gây thêm khó khăn cho các trường ngoài công lập. Đó là một trong những nguyên nhân trực tiếp nhưng không phải là nguyên nhân cơ bản. Nếu nhìn vào bức tranh toàn cảnh, chúng ta sẽ thấy ngay chính các trường công cũng đang có khó khăn trong việc tuyển sinh và nhiều ngành học đang có nguy cơ đóng cửa. Những biến động trong tuyển sinh đại học những năm gần đây chính là sự phản ứng của người học và phụ huynh (người tiêu dùng) về giá trị gia tăng mà bốn năm học đại học mang lại cho họ.

Thị trường cần gì?

Một cuộc khảo sát do Trung tâm Nghiên cứu và Phân tích chính sách thuộc Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHQG Hà Nội) thực hiện, với quy mô gần 3.000 cựu sinh viên thuộc năm khóa khác nhau (ra trường từ năm 2006-2010) của ba đại học: ĐHQG Hà Nội, ĐHQG TP.HCM và ĐH Huế, đã cho thấy những con số báo động. Có đến 26,2% cử nhân cho biết chưa tìm được việc làm, dù khái niệm việc làm ở đây được hiểu rất rộng là bất cứ công việc gì tạo ra thu nhập, không nhất thiết phải đúng với trình độ, chuyên ngành đào tạo.

Trong số này, 46,5% cho biết đã đi xin việc nhưng không thành công. 42% lựa chọn một giải pháp an toàn là... tiếp tục học lên hoặc học thêm một chuyên ngành khác. Thậm chí, có 27% cử nhân được hỏi cho biết, họ rất khó kiếm việc làm do ngành học của mình không phù hợp với thị trường. Số người rơi vào cảnh nhà tuyển dụng không hiểu về ngành học cũng chiếm tới 18%.

Các khảo sát trên đây đa số được thực hiện tại các đại học quốc gia, đại học vùng - những đại học “đầu tàu” của Việt Nam. Thực trạng này ở các trường đại học khác có lẽ cũng không khả quan hơn.

Những con số trên đây đã cho thấy ít nhất hai vấn đề nghiêm trọng. Một là chất lượng giáo dục hiểu theo ý nghĩa hẹp nhất là năng lực, kỹ năng thụ đắc được sau bốn năm học ở bậc đại học, đã thấp đến nỗi hơn một phần tư sinh viên sau khi ra trường từ một đến năm năm vẫn chưa tìm được việc làm.

Hai là giữa nhà trường và thế giới việc làm bên ngoài đang có một khoảng cách quá lớn. Trong lúc các doanh nghiệp không ngớt than phiền thiếu người làm được việc và khẳng định nguồn nhân lực có chất lượng cao đang là chỗ “thắt cổ chai” cản trở những kế hoạch phát triển của họ, thì các cô cậu cử nhân mà các trường đại học tạo ra vẫn không lấp được chỗ trống ấy vì họ đã không được học những gì thực sự cần thiết đối với thị trường lao động.

Vậy thì tình trạng khó khăn trong tuyển sinh đã gửi đi một tín hiệu báo động cho tất cả các trường đại học, và xét về mặt này, hiện tượng đó có ý nghĩa tích cực. Nó khiến cho tất cả các trường công lập và ngoài công lập đều phải nhìn lại sứ mạng, chương trình đào tạo, kết quả đào tạo của mình theo hướng coi người học là trung tâm và gắn chặt với nhu cầu của thị trường lao động, đặc biệt khi chúng ta đang hoạt động trong bối cảnh toàn cầu hóa.

Những gia đình có điều kiện, phần lớn đã gửi con em đi học ở nước ngoài. Những gia đình có mức thu nhập thấp hơn đang là khách hàng của những cơ sở đào tạo đại học vì lợi nhuận của nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam, hoặc những chương trình liên kết quốc tế. Với nhóm có thu nhập thấp hơn nữa thì nhiều gia đình ngay cả học phí trong nước (đang được các trường cho là quá thấp) cũng không kham nổi.

Cạnh tranh lành mạnh là điều tốt cho cả hệ thống, vì nó sẽ kích thích chất lượng và sự đổi mới. Thị trường sẽ tạo ra động lực cho các trường. Như chúng ta đã thấy, những tấm bằng tốt nghiệp đại học không kèm theo giá trị và phẩm chất tương ứng đã và sẽ tiếp tục bị từ chối trên thị trường lao động. Lối thoát tốt nhất, nếu không nói là duy nhất, của các trường, là phải biện minh được sự tồn tại của mình bằng những lợi ích rất thực tế cho người học: khả năng tìm được việc làm, tạo ra thu nhập, thăng tiến trong sự nghiệp. Tương lai của từng trường, danh tiếng, uy tín, sự thịnh vượng và phát triển của mỗi trường sẽ được quyết định bởi thành công của những người được đào tạo từ ngôi trường ấy.

Cuộc chiến tồn tại của các trường đại học dân lập

Nếu có thời gian đi một vòng từ Hà nội về Hà Nam, Nam Định qua Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh sẽ dễ dàng tìm thấy những trường ĐH 100% lãnh đạo chưa bao giờ đứng trên bục giảng.

Những nguyên nhân kinh tế sâu xa khiến chúng ta phải đặt câu hỏi: "Cuộc chiến" đã và đang diễn ra ở một số ĐH tư thục thực sự vì ai?

Cuộc chiến khốc liệt và dai dẳng

Chính sách khuyến khích loại hình đào tạo tư thục đã được Nhà nước cụ thể hóa trong Luật Giáo dục Đại học được Quốc hội thông qua ngày 18/06/2012:

Rõ ràng là với các ưu tiên về đất đai, thuế, tín dụng... các nhà đầu tư luôn mong muốn trường của họ được xếp vào loại "hoạt động không vì lợi nhuận". Nghịch lý ở chỗ để được công nhận là "hoạt động không vì lợi nhuận" các thành viên góp vốn phải chấp nhận không hưởng lợi tức, hoặc hưởng lợi tức hằng năm không vượt quá lãi suất trái phiếu Chính phủ (khoản 7 điều 4).

Thực tế cho thấy ĐH tư thục mang lại siêu lợi nhuận cho nhà đầu tư. Có thể kiểm chứng qua báo cáo tài chính được công bố công khai của một trường với quy mô chưa đến 4000 sinh viên: Với vốn góp ban đầu  khoảng hơn ba tỷ, sau chưa đến năm năm, nhà đầu tư đã thực hưởng gần 19 tỷ (trong đó khoảng bẩy tỷ chia trực tiếp và gần 12 tỷ đưa vào vốn điều lệ). Như vậy là chỉ sau một năm nhà đầu tư đã thu hồi 100% vốn góp.

Truyền hình Việt Nam ngày 15,16/7 đưa tin Công ty mía đường Lam Sơn đầu tư một trạm phát điện sử dụng nguyên liệu bã mía, với dự kiến sau 10 năm sẽ thu hồi vốn. So sánh các thông tin đã nêu, thì sẽ hiểu sở hữu một trường ĐH tư thục quả là "mơ ước cháy bỏng" của không ít người.

Với những trường quy mô tới hàng vạn sinh viên như ĐH Hùng Vương, cuộc chiến khốc liệt và dai dẳng giành quyền lãnh đạo hẳn không có gì khiến chúng ta phải ngạc nhiên.

Từ 1/1/2013 Luật GDĐH bắt đầu có hiệu lực, vậy làm thế nào để có thể hưởng lợi mà vẫn không trái luật? Điều này có lẽ không ai giỏi hơn các nhà đầu tư.

Một "chiêu đơn giản" đang được áp dụng là chuyển "cách hưởng lợi" từ việc chia lãi sang cách hưởng lợi bằng "sức lao động". Nghĩa là nhà đầu tư kiêm luôn chức năng quản lý. Bằng mọi cách, các cổ đông góp vốn dành lấy các chức vụ trong hội đồng quản trị và ban điều hành (hiệu trưởng, hiệu phó, thậm chí là trưởng phòng- ban, giám đốc trung tâm...).

Thu nhập cho các chức vụ này (đã hoặc sẽ) được hội đồng quản trị tự quyết định, mà không bị pháp luật ngăn cấm, và đương nhiên cao hơn nhiều so với lợi tức thu được từ vốn góp. Chẳng thế mà một số nơi các phòng, ban chỉ có cấp phó, còn cấp trưởng đều do lãnh đạo trường kiêm nhiệm.

Số lượng hiệu phó vì vậy có khi nhiều gấp đôi so với quy định trong điều lệ các trường ĐH.

Khoản 2 Điều 35 quyết định 58/2010 Điều lệ trường ĐH quy định:

Hiệu trưởng trường ĐH phải có các tiêu chuẩn sau đây: Có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, có uy tín trong giới khoa học, GD, có năng lực quản lý và đã có ít nhất năm năm tham gia giảng dạy và quản lý GD ĐH.

Khoản 3 điều 38: Phó hiệu trưởng phải có các tiêu chuẩn quy định tại khoản 2 Điều 35 của Điều lệ này.

Những ai có một chút kiến thức về đại số logic thì chắc chắn sẽ biết biểu thức logic sau: True AND True = True  (đúng và đúng = đúng)

Biểu thức logic trên phát biểu thành lời như sau: Hai mệnh đề logic liên kết bởi toán tử And (và) cho kết quả đúng khi và chỉ khi cả hai mệnh đề đó đều đúng.

Những người hiểu tiếng Việt đọc các quy định trên đều nhận thức được rằng muốn làm hiệu trưởng, hiệu phó trường ĐH phải đồng thời thỏa mãn hai điều kiện: Ít nhất năm năm giảng dạy ĐH và ít nhất năm năm quản lý GD ĐH.

Bộ chủ quản: Im lặng là...vàng?

Nếu có thời gian đi một vòng từ Hà nội về Hà Nam, Nam Định qua  Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh sẽ dễ dàng tìm thấy những trường ĐH 100% lãnh đạo chưa bao giờ đứng trên bục giảng.

Không thể nói họ không biết tiếng Việt, càng không thể nói họ yếu về kiến thức vì nhiều người trong số này có học vị thạc sĩ,  tiến sĩ. Vậy tại sao họ vẫn có thể ung dung ngồi ở vị trí đó khi Quyết định 58 đã có hiệu lực thi hành?

Các cơ quan giám sát, thực thi pháp luật ở địa phương cũng như trung ương vì nguyên nhân "khách quan" nào đó dường như... "chưa nhận thấy" điều này. Bằng chứng là vừa qua Bộ GD và ĐT đã thanh tra mấy chục trường, khi làm việc đoàn thanh tra chắc chắn biết rõ đội ngũ lãnh đạo của đơn vị được thanh tra.

Tuy nhiên kết luận thanh tra lại chỉ tập trung vào việc đình chỉ một số ngành đào tạo không có giảng viên trình độ tiến sĩ, mà không hề chú ý đến những người đang điều hành, đang tạo nên sự bất cập đó? Nếu mở rộng đến lãnh đạo cấp phòng (đào tạo, nghiên cứu khoa học, khảo thí...) thì sẽ còn nhiều điểu để nói nữa.

Có một thực tế là năm 2011 cả nước có tới 414 trường CĐ, ĐH, nếu chỉ dựa vào thanh tra bộ để thanh tra toàn diện từng ấy trường thì không thể. Nhưng các tỉnh đã được trao quyền quản lý trường về lãnh thổ, đã được trao quyền công nhận chủ tịch hội đồng quản trị và hiệu trưởng trường ĐH trên địa bàn chẳng lẽ lại không được trao quyền thanh tra?

Phải chăng đã hơi muộn nếu bây giờ Bộ GD và ĐT cùng chính quyền địa phương rà soát đội ngũ lãnh đạo các trường CĐ, ĐH tư thục trên cả nước? Luật đã có, chỉ còn chờ sự quan tâm của người đứng đầu và sự công tâm của những người thực hành công vụ. Mong rằng các chuyến thanh tra đến các trường không phải là những chuyến đi dã ngoại.

Nhân đây cũng cần nêu lên một ý kiến về khoản 2 Điều 20 Luật GDĐH:

Tiêu chuẩn hiệu trưởng: a)Có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, có uy tín về khoa học, GD, có năng lực quản lý và đã tham gia quản lý cấp khoa, phòng của cơ sở GD ĐH ít nhất năm năm.

Tiêu chuẩn hiệu trưởng được chia ra làm hai phạm trù:

Thứ nhất là "phẩm chất, đạo đức, uy tín, năng lực". Phạm trù này thật khó đánh giá khi chúng ta đang sống trong một thời kỳ mà nhiều thứ có thể mua bằng tiền. Hơn nữa lấy cái gì làm công cụ để đong đo các khái niệm trừu tượng này? Cân, ống bơ hay gáo dừa?

Thứ hai là "đã tham gia quản lý cấp khoa, phòng của cơ sở GDĐH ít nhất năm năm". Ai cũng biết để được tuyển làm giảng viên ĐH phải tốt nghiệp loại khá, giỏi. Còn để làm việc tại các phòng, ban có thể chỉ cần tốt nghiệp loại trung bình.

Tiêu chuẩn này thấp hơn tiêu chuẩn ghi tại Điều 35 Quyết định 58 của Chính phủ, bởi lẽ nó cho phép một người (ví dụ: Trưởng phòng hành chính quản trị) chưa từng đứng trên bục giảng, vẫn có thể làm hiệu trưởng trường ĐH, nó cũng mâu thuẫn với quy định của Luật GD, hiệu trưởng phải là nhà giáo.

Một thực tế đang được áp dụng trong các trường ĐH tư thục là "trẻ hóa đội ngũ cán bộ, giáo viên" cơ hữu. Chiêu này xem ra có vẻ rất hợp lý trong chiến lược phát triển của trường.

Đội ngũ cán bộ trẻ có khả năng gắn bó với trường lâu dài hơn, có khả năng bồi dưỡng nâng cao trình độ hơn v.v... Thế thì làm thế nào để trường có một "đội hình đẹp" khi làm việc với thanh tra GD?

Cách làm đơn giản nhưng hiệu quả là gộp danh sách các giáo viên thỉnh giảng vào với giáo viên cơ hữu, tiếp đến là những thủ thuật quen thuộc để có được sự "thông cảm" của cơ quan chức năng. Nếu không có được sự "thông cảm" đó thì chúng ta lý giải như thế nào về thông tin sau [1]:

Trường ĐH Phú Yên và ĐH Phạm Văn Đồng đều chỉ có hai giảng viên là tiến sĩ.

Trường CĐ Kỹ thuật Công nghệ Vạn Xuân gửi báo cáo là có 20 tiến sĩ, 105 thạc sĩ, nhưng khi kiểm tra theo bảng lương chỉ có một tiến sĩ, sáu thạc sĩ.  Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Đông Du có sáu giảng viên cử nhân ngành kế toán, nhưng đào tạo 850 sinh viên cao đẳng kế toán..."

Câu nói "thầy già, con hát trẻ" là sự đúc kết của tiền nhân, rằng trong nghề dạy học, kinh nghiệm tích lũy là vô cùng quan trọng.

Đội ngũ giáo viên trẻ sẽ đồng nghĩa với việc hệ số lương của họ chưa đến 3.0 và bảng lương của trường sẽ trở nên "rất đẹp" trong con mắt nhà đầu tư. Và điều quan trọng hơn là việc làm này không hề trái luật.

Chỉ có điều cách thức tăng thu, giảm chi đến mức tối đa như hiện nay có góp phần tạo nên một sản phẩm "hàng Việt Nam chất lượng cao" hay không thì hãy để người tiêu dùng (xã hội) lên tiếng.

Một điều nữa cũng thuộc phạm trù pháp lý cần làm sáng tỏ. Khoản 6 Điều 29 Quyết định 63 quy định: Tài sản tăng thêm nhờ kết quả hoạt động của trường ĐH tư thục thuộc sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia.

Vấn đề là phần tài sản ấy được chia cho ai? Phần tài sản tăng thêm này là kết quả lao động của toàn thể cán bộ giáo viên trong trường nhưng nó sẽ chỉ được chia cho các cổ đông góp vốn. Những người lao động (hoặc đại diện của họ) dù có được bầu vào hội đồng quản trị theo luật định vẫn chỉ có... hai bàn tay trắng.

Nên chăng cần có các văn bản dưới luật quy định cụ thể về phần tài sản tăng thêm được đưa vào vốn điều lệ. Nhà đầu tư sẽ được một tỷ lệ tương ứng với vốn góp ban đầu và công sức lao động của họ, phần còn lại do người lao động đại diện. Chỉ như vậy tiếng nói của các thành phần không góp vốn trong hội đồng quản trị mới có đôi chút sức nặng!

Những nguyên nhân kinh tế sâu xa nêu trên khiến chúng ta phải đặt câu hỏi: "Cuộc chiến" đã và đang diễn ra ở một số ĐH tư thục thực sự vì ai? Có phải vì đội ngũ cán bộ, giáo viên (những người nghèo) như một số bài viết đăng tải vừa qua? Câu trả lời chắc chắn là không.

Rõ ràng cán bộ, giáo viên không phải là một bên tham chiến. Họ chỉ là người làm thuê. Họ ở giữa hai làn đạn, vì vậy xin đừng dùng họ làm bình phong trợ giúp cho các mưu đồ thâu tóm nhà trường của người trong cuộc. Bất kể là bên nào thắng thì những người làm thuê cũng chỉ được hưởng mức lương theo thang bậc lương của ngành GD công lập.

Nếu tiếng nói trên các diễn đàn không có chút tác động nào đối với những cái đầu vô cảm thì chúng ta vẫn có quyền hy vọng pháp luật sẽ  lên tiếng.

Tuyển sinh 2013: các trường sẽ tuyển sinh riêng như thế nào?

Hiện nay, Bộ GDĐT cũng cử 3 đoàn thanh tra kiểm tra về tình hình tuyển sinh năm 2012 và xác định chỉ tiêu cho năm 2013 của 30 trường ĐH, CĐ trên cả nước. Trường nào không đảm bảo theo Thông tư 57, Bộ GDĐT sẽ không cho tuyển sinh.

Trường năng khiếu tuyển sinh riêng

Thay đổi lớn nhất về mặt kỹ thuật của kỳ tuyển sinh ĐH, CĐ 2013, là việc các trường trọng điểm, trường năng khiếu sẽ được thí điểm tự chủ trong tuyển sinh.

Kết thúc tuyển sinh ĐH, CĐ 2012 (ngày 30.11), Bộ GDĐT đang rục rịch chuẩn bị tuyển sinh năm 2013. Trao đổi với phóng viên NTNN, Thứ trưởng Bộ GDĐT Bùi Văn Ga cho biết một số điểm mới về tuyển sinh ĐH, CĐ năm 2013 .


Ông Ga cho biết: Tuyển sinh ĐH-CĐ từ nay đến năm 2015 vẫn tiếp tục theo phương thức “3 chung”, đồng thời không có thay đổi gì lớn, chỉ thay đổi về mặt kỹ thuật để kỳ thi tối ưu hơn.

Cụ thể thay đối về kỹ thuật có gì đáng chú ý, thưa Thứ trưởng?

- Thay đổi lớn nhất về mặt kỹ thuật là năm 2013, các trường trọng điểm, trường năng khiếu sẽ được thí điểm tự chủ trong tuyển sinh. Đổi mới tiếp theo là mở rộng ưu tiên xét tuyển đối với những huyện nghèo và 20 huyện biên giới, hải đảo thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long không có trong danh sách huyện nghèo mà Chính phủ quy định, để tạo điều kiện cho thí sinh những vùng này có thể vào học ĐH.

Ngoài ra, Bộ GDĐT mở rộng diện ưu tiên cho 3 vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ và xem xét để đưa vào Quy chế tuyển sinh năm 2013.

Hiện nay chỉ tiêu tuyển sinh khối ngành kinh tế đã vượt xa so với kế hoạch mà Chính phủ đã đưa ra. Trong năm 2013, Bộ GDĐT sẽ có hướng điều chỉnh như thế nào?

- Hiện nay rất nhiều trường ĐH, CĐ tuyển sinh khối ngành kinh tế và đã tạo nên sự bão hòa và vượt gấp đôi so với quy hoạch mà Chính phủ đã đưa ra (quy hoạch là 20% nhưng hiện nay đã chiếm tới 38%). Do đó, Bộ GDĐT không khuyến khích các trường mới, trường vừa nâng cấp lẫn các trường có truyền thống mở thêm ngành và tăng chỉ tiêu ở khối ngành kinh tế.

Về việc xác định chỉ tiêu trong năm 2013, Bộ GDĐT sẽ kiểm soát như thế nào?

- Quan điểm của Bộ GDĐT là không tăng về quy mô tuyển sinh để đảm bảo chất lượng đào tạo. Việc xác định chỉ tiêu năm 2013 được Bộ GDĐT giao cho các trường thực hiện căn cứ theo Thông tư 57 (căn cứ trên số giảng viên, cơ sở vật chất) mà Bộ đã ban hành. Những trường nào xác định chỉ tiêu không trung thực với năng lực hiện có sẽ bị Bộ xử phạt nặng, trừ chỉ tiêu cho năm kế tiếp.

Hiện nay, Bộ GDĐT cũng cử 3 đoàn thanh tra kiểm tra về tình hình tuyển sinh năm 2012 và xác định chỉ tiêu cho năm 2013 của 30 trường ĐH, CĐ trên cả nước. Trường nào không đảm bảo theo Thông tư 57, Bộ GDĐT sẽ không cho tuyển sinh.

Năm nay, nhiều trường ĐH, CĐ đào tạo các ngành như nông – lâm – ngư và khối ngành kỹ thuật rất khó tuyển sinh, năm 2013 tới, Bộ GDĐT có cách nào để thu hút người học?

- Khối ngành nông – lâm - ngư và khối ngành kỹ thuật không đủ người học do ngành học không đủ sức thu hút. Tuy nhiên, thực tế nhu cầu cho phát triển kinh tế hiện nay lại rất cần nhân lực cho những ngành này. Bộ GDĐT đã nhận thấy thực trạng này từ vài năm nay. Tuy nhiên, để thu hút được người học, cần có sự phối hợp từ các bộ, ngành để hỗ trợ cho người học như ưu tiên học phí, việc làm sau khi ra trường cùng nhiều chế độ ưu tiên khác.

Xin cảm ơn Thứ trưởng!

Cần khắc phục gì cho mùa tuyển sinh 2013?

Trong cơ chế thị trường, giáo dục và nguồn nhân lực cũng sẽ vận hành theo quy luật "cung - cầu". Tất nhiên, "sản phẩm giáo dục" luôn là thứ hàng hóa đặc biệt. Gia sư tiếng anh Cơ sở nào có "sản phẩm" thật sự chất lượng, đáp ứng được nhu cầu xã hội thì sẽ tồn tại và được đón nhận.

Mùa tuyển sinh buồn

Mùa tuyển sinh đại học, cao đẳng năm nay Bộ Giáo dục và Ðào tạo ra quy chế mới cho phép các cơ sở đào tạo kéo dài công tác xét tuyển tới tận 30-11-2012. Ai cũng hiểu động thái này nhằm tạo nhiều hơn cơ hội trúng tuyển cho thí sinh, tạo điều kiện thuận lợi để các trường tuyển đủ chỉ tiêu. Thế nhưng, thực tế lại không mấy sáng sủa, ngay cả khi thời gian xét tuyển chưa hết thì một số ngành học đã tạm đóng cửa, nhiều trường "nóng lòng" bởi nguy cơ không có sinh viên. Từ thực tiễn đáng lo ấy lại cho thấy những tín hiệu đáng mừng!


Tính đến thời điểm này, nhiều trường có uy tín đã cơ bản ổn định công tác tuyển sinh và đang triển khai đào tạo. Trong khi đó, các trường mới được thành lập, nhất là một bộ phận trường ngoài công lập lại đang lao đao vì chỉ nhận được "nhỏ giọt" hồ sơ dự tuyển, thậm chí ít hơn nhiều lần so với chỉ tiêu. Dĩ nhiên, những bất cập nảy sinh vẫn chỉ là chuyện "mới như cũ": vấn đề "lệch" cơ cấu ngành, nhiều trường kiến nghị lên bộ cho hạ điểm chuẩn thấp hơn điểm sàn để thu hút sinh viên...

Nguyên nhân tuyển sinh bết bát

Bàn về nguyên nhân có rất nhiều ý kiến khác nhau. Người lo ngại cho sự phát triển của hệ thống giáo dục đại học, người cảnh báo tương lai sẽ khủng hoảng nguồn nhân lực, v.v. Công bằng mà nói, dư luận càng đặt ra nhiều câu hỏi (vì sao), càng tốt. Xã hội đã biết cách phản biện và đòi hỏi một môi trường giáo dục có tính cạnh tranh lành mạnh vì chất lượng đào tạo. Bao năm qua, học sinh, sinh viên phải thụ động phụ thuộc vào các cơ sở giáo dục, có thế nào phải chịu thế nấy. Ngày nay, mỗi người đã có nhiều hơn một cơ hội cho mình. Các học sinh, thí sinh đã biết chủ động lựa chọn môi trường tốt, phù hợp; các gia đình cũng chủ động lựa chọn những ngôi trường chất lượng, thầy giáo uy tín để gửi gắm con cái họ. Thực tế, có những thí sinh tuy không đỗ nguyện vọng đầu, nhưng nhất định không nộp hồ sơ dự xét nguyện vọng bổ sung vào một số trường mà chắc chắn là sẽ trúng tuyển. Nguyên nhân chính vì họ thấy chất lượng đào tạo ở đó không cao.

Trong cơ chế thị trường, giáo dục và nguồn nhân lực cũng sẽ vận hành theo quy luật "cung - cầu". Tất nhiên, "sản phẩm giáo dục" luôn là thứ hàng hóa đặc biệt. Cơ sở nào có "sản phẩm" thật sự chất lượng, đáp ứng được nhu cầu xã hội thì sẽ tồn tại và được đón nhận. Ngược lại, trường nào chỉ chăm chăm vào lợi nhuận, ắt sẽ bị tẩy chay. Ðó là quy luật khách quan tích cực của tiến trình phát triển. Từ những bất cập trong tuyển sinh năm nay, theo chúng tôi, tín hiệu đáng mừng hơn là đáng lo. Ðã đến lúc (nếu như không muốn nói là muộn) các cơ sở giáo dục phải tự kiểm điểm, ngành giáo dục phải khẩn trương tìm ra giải pháp hiệu quả nhất nhằm đáp ứng nhu cầu học tập của xã hội: thực học.

Xu hướng chọn nghề của học sinh tập trung vào tài chính ngân hàng

Bác Trần Anh Tuấn cho rằng: “Nhu cầu học nghề của học sinh vẫn tiếp tục xu hướng tập trung nhiều ở trình độ đại học, cao đẳng. Từ đó dẫn đến tình trạng mất cân đối cung - cầu lao động đối với các ngành nghề trung cấp, công nhân kỹ thuật lành nghề…”.

Theo khảo sát nhu cầu học nghề của học sinh tại các trường THPT trên địa bàn TPHCM năm 2012, ngành nghề Tài chính Ngân hàng đứng đầu trong các lựa chọn của học sinh cuối cấp, chiếm tỉ lệ 33,52%.

Theo Trung tâm Dự báo nhu cầu nhân lực và thông tin thị trường lao động TP HCM (Falmi), các ngành nghề có nhu cầu học thấp hơn là Điện - Điện tử và Công nghệ thông tin (chiếm 16,92%); Marketing - Nhân viên kinh doanh (chiếm 13,32%); Du lịch - Môi trường - Khách sạn (chiếm 8,05%); Quản lý - Quản trị - Văn phòng (chiếm 6,95%); Cơ khí - Xây dựng - Kiến trúc (chiếm 6,73%); Dược - Mỹ phẩm - Hóa (chiếm 4,33%); Sản xuất và chế biến (chiếm 1,93%); Luật - Khoa học (chiếm 0,95%) và tất cả các ngành nghề khác chỉ chiếm 7,3%).

Bác Trần Anh Tuấn - phó giám đốc thường trực Falmi cho biết: “Nhu cầu của học sinh hiện nay quá chú trọng nhiều về các ngành Kinh tế, đặc biệt là ngành Tài chính - Ngân hàng”.


nganh hot, chon nganh, xu huong chon nganh, chon nganh hoc, xu the chon nganh, nganh hoc hot, nganh hoc de xin viec, tuyen sinh, thong tin tuyen sinh, giao duc, bao giao duc, kenh tuyen sinh, tuyen sinh 2013, xet tuyen dai hoc, diem xet tuyen, chi tieu xet tuyen, danh sach cac truong xet tuyen, ho so xet tuyen, dieu kien xet tuyen, diem chuan xet tuyen, diem san dai hoc, thong tin xet tuyen, thoi gian xet tuyen, ngay xet tuyen, han nhan ho so xet tuyen, thoi gian ket thuc xet tuyen, xet tuyen nguyen vong 2, xet tuyen nv 2, nguyen vong 2, nguyen vong 1, nhan dan

Biểu đồ nhu cầu học nghề của học sinh TPHCM năm 2012.


Trong khi đó, theo dự báo của Falmi về nhu cầu nhân lực giai đoạn 2012 - 2015 thì nhu cầu nhóm ngành Cơ khí - Luyện kim - Công nghệ ô tô xe máy lại đứng đầu, chiếm tỷ lệ 28% nhu cầu lao động. Đứng thứ 2, 3 là nhóm ngành Công nghệ chế biến thực phẩm (13%) và Markerting - Kinh tế - Kinh doanh - Bán hàng (12%). Nhóm ngành Tài chính - Ngân hàng - Kế toán - Bảo hiểm chỉ đứng thứ 7 trong 10 nhóm ngành có nhu cầu nhân lực cao nhất giai đoạn này, chiếm 6% tổng nhu cầu nhân lực.

Bác Nguyễn Minh Hiếu - Trưởng bộ phận nhân lực Chonviec cho biết: “SV ngành Tài chính Ngân hàng hiện nay xin việc rất nhiều, mỗi ngày chúng tôi nhận hàng trăm hồ sơ xin việc nhưng việc tuyển dụng lại rất ít. Hiện trong ngành này, phải là những SV giỏi chuyên môn, ngoại ngữ và các kỹ năng mềm khác mới có cơ hội tìm được việc làm”.

Bác Trần Anh Tuấn nhận định: “Thực tế cho thấy, không ít thí sinh đăng ký dự thi vào đại học, cao đẳng theo xu hướng thấy ngành nghề nào đang “nóng” là đăng ký. Trong khi đó hiện nay, nhân lực thị trường lao động đang cần nhất chính là lao động chuyên môn kỹ thuật lành nghề và nhân lực quản lý có trình độ cao”.

nganh hot, chon nganh, xu huong chon nganh, chon nganh hoc, xu the chon nganh, nganh hoc hot, nganh hoc de xin viec, tuyen sinh, thong tin tuyen sinh, giao duc, bao giao duc, kenh tuyen sinh, tuyen sinh 2013, xet tuyen dai hoc, diem xet tuyen, chi tieu xet tuyen, danh sach cac truong xet tuyen, ho so xet tuyen, dieu kien xet tuyen, diem chuan xet tuyen, diem san dai hoc, thong tin xet tuyen, thoi gian xet tuyen, ngay xet tuyen, han nhan ho so xet tuyen, thoi gian ket thuc xet tuyen, xet tuyen nguyen vong 2, xet tuyen nv 2, nguyen vong 2, nguyen vong 1, nhan dan

10 ngành có nhu cầu nhân lực cao nhất giai đoạn 2012 - 2015.

Còn bác Nguyễn Minh Hiếu thì cho rằng: “Thực ra có rất nhiều ngành không “nổi” lắm nhưng hiện rất “khát” nhân lực, lương cao chót vót mà doanh nghiệp tuyển không ra người làm; nhất là các ngành mà mọi người nghĩ là phải làm trong môi trường độc hại như hóa chất, công nghệ thực phẩm… Hiện chúng tôi nhận được rất nhiều yêu cầu tuyển dụng nhân lực trong các ngành này mà không tìm đủ ứng viên cho nhà tuyển dụng”.

Điều này cũng đúng theo dự báo nhu cầu nhân lực giai đoạn 2012 - 2015 của Falmi. Trong giai đoạn này, nhu cầu nhân lực trong nhóm ngành Công nghệ chế biến thực phẩm đứng thứ 2, chỉ sau nhóm ngành Cơ khí - Luyện kim - Công nghệ ô tô xe máy; nhóm ngành Hóa - Hóa chất - Y - Dược - Mỹ phẩm cũng chiếm 4% tổng nhu cầu nhân lực.

Về trình độ đào tạo, theo Falmi thì học sinh chú trọng nhiều ở bậc đại học (chiếm tỷ lệ 70,83%); Cao đẳng (chiếm 25,6%); Trung cấp (chiếm 3,57%); trong khi đó ở bậc Sơ cấp nghề hầu như không có.

Bác Trần Anh Tuấn cho rằng: “Nhu cầu học nghề của học sinh vẫn tiếp tục xu hướng tập trung nhiều ở trình độ đại học, cao đẳng. Từ đó dẫn đến tình trạng mất cân đối cung - cầu lao động đối với các ngành nghề trung cấp, công nhân kỹ thuật lành nghề…”.

Thứ Ba, 27 tháng 11, 2012

Học sinh trường chuyên cũng đi học thêm

Minh Tuấn, lớp 10 chuyên toán Trường Lê Hồng Phong TP.HCM, cho biết: “Một tuần em học 8 tiết toán ở trường nhưng vẫn đi học thêm bên ngoài nhằm ôn chắc lại kiến thức”.

Bi hài chuyện học sinh chuyên đi học thêm... môn chuyên

Hoàn toàn lãng phí khi hàng ngàn học sinh ở các trường năng khiếu được đào tạo đặc biệt chỉ với mục đích quan trọng nhất là vào ĐH.

Rất nhiều HS các trường chuyên tham gia lớp học thêm tại chi nhánh của Trường Bồi dưỡng văn hóa 218 Lý Tự Trọng vào chiều 26.11

Để trúng tuyển ĐH

Một hiện tượng xảy ra phổ biến hiện nay là học sinh (HS) trường chuyên, năng khiếu cũng đi học thêm tất bật.

Chúng tôi làm một cuộc khảo sát nhỏ hơn 10 HS trường chuyên, năng khiếu tại TP.HCM. Tất cả các em này đều cho biết học thêm từ 1-4 môn. Đáng nói, lịch học thêm của nhiều em dày suốt cả tuần. Bà Phạm Thị Mộng Thu, phụ huynh HS lớp 12 sinh Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong, cho biết: “Các ngày thứ hai, tư, sáu, con tôi học thêm 2 môn toán, sinh từ 17 giờ 30 - 21 giờ 20. Tối thứ ba, năm học môn lý từ 17 giờ 30 - 19 giờ 30. Còn thứ bảy và chủ nhật, học thêm môn hóa từ 12 giờ 30 - 17 giờ”. Lý giải nguyên nhân cho con mình học thêm, bà Thu nói: “Mục đích là muốn con thi đậu ĐH. Khi con học thêm bên ngoài, mình cũng yên tâm hơn”.

Không riêng gì lớp 12, HS các khối lớp 10, 11 trường chuyên, năng khiếu đều khẳng định có học thêm, ít nhất là ở… môn chuyên. Minh Tuấn, lớp 10 chuyên toán Trường Lê Hồng Phong TP.HCM, cho biết: “Một tuần em học 8 tiết toán ở trường nhưng vẫn đi học thêm bên ngoài nhằm ôn chắc lại kiến thức”.

"Một tuần em học 8 tiết toán ở trường nhưng vẫn đi học thêm bên ngoài nhằm ôn chắc lại kiến thức", Minh Tuấn 
HS lớp 10 chuyên toán Trường Lê Hồng Phong TP.HCM

Theo ông Nguyễn Thanh Hùng, Phó hiệu trưởng Trường THPT Năng khiếu (ĐH Quốc gia TP.HCM), HS ở trường chuyên, năng khiếu chỉ cần học tại trường là đủ kiến thức để thi đậu ĐH. Tuy nhiên, phía phụ huynh thường không an tâm và tìm mọi cách cho con em họ học thêm.

Ông Lê Thành Thái, Hiệu trưởng Trường Trung học thực hành (ĐH Sư phạm TP.HCM), nhận định: “Do tâm lý phụ huynh không tin tưởng vào việc giảng dạy ở trường chuyên mà đúng hơn là không tin tưởng và khả năng học tập của con em mình nên mới dẫn đến tình trạng HS chuyên phải đi học thêm”. Trong khi đó theo ông Thái, thời lượng học ở các lớp chuyên gấp 1,5 lần bình thường. Như ở môn toán, văn, Anh văn mỗi tuần có 6 tiết, cùng với 2 buổi chuyên đề nhằm bồi dưỡng chuyên sâu. Chưa hết, HS các lớp chuyên cũng được luyện các môn lý, hóa, sinh nên hoàn toàn đủ kiến thức để thi đậu ĐH.

Trao đổi với chúng tôi, lãnh đạo một trường chuyên tại TP.HCM cho biết, tuy không có thống kê cụ thể nhưng thực chất, phần đông HS chuyên, năng khiếu sau giờ tan trường thường phải đi học thêm bên ngoài chỉ với mục đích luyện thi để đậu vào ĐH. Trong khi đó tỷ lệ HS chuyên, năng khiếu hằng năm trúng tuyển ĐH rất cao. Chẳng hạn Trường Trung học Thực hành là 89,9%, Trường THPT chuyên Trần Đại Nghĩa 100%...
Lãng phí tài năng
Mỗi năm tổ chức kỳ thi đầu vào hết sức căng thẳng, tuyển được những HS thật sự tài năng vào bồi dưỡngđể cuối cùng mục đích cao nhất là trúng tuyển ĐH thì quả hết sức lãng phí! Giáo viên và những người làm công tác quản lý ở các trường THPT chuyên đều thừa nhận HS chuyên có tố chất đặc biệt, thông minh hơn các HS thường. Vì vậy, nếu có hướng đi đúng, chính sách hợp lý thì đây sẽ là những nhân tố nổi trội góp phần vào sự phát triển của quốc gia. 

Ngoài những HS xuất sắc đoạt giải quốc gia, quốc tế được hưởng các chế độ ưu tiên; HS chuyên, nếu thỏa một số điều kiện nhất định, cũng cần có chính sách thỏa đáng để toàn tâm toàn ý vào chương trình học phát triển tài năng.

Ông Nguyễn Thanh Hùng dẫn chứng: “Ở các nước tiên tiến, các trường phổ thông đào tạo HS chuyên, năng khiếu thường tuyển thẳng vào ĐH. Các em chỉ cần mất 1-2 năm nữa để có thể lấy bằng ĐH. Vì có một số chuyên đề ở trường THPT chuyên được lấy từ chương trình của ĐH để dạy chuyên sâu. Nếu được tuyển thẳng vào ngành phù hợp, các em có thể bỏ qua những phần đã học, rút ngắn được thời gian học ĐH và dành thời gian đó vào nghiên cứu hoặc học lên cao”.

Trong khi đó, mục tiêu đào tạo năng khiếu ở nước ta vẫn còn hết sức chung chung. Theo quy chế trường chuyên hiện hành, một trong những mục tiêu là phát hiện những HS có tư chất thông minh, đạt kết quả xuất sắc trong học tập và phát triển năng khiếu của HS về một số môn học trên cơ sở đảm bảo giáo dục phổ thông toàn diện.

Về quyền lợi, HS chuyên đoạt giải trong các kỳ thi HS giỏi, các cuộc thi sáng tạo khoa học kỹ thuật cấp địa phương, quốc gia, quốc tế được hưởng chính sách học bổng khuyến khích học tập và chế độ khen thưởng theo quy định. Trong 5 chương, 32 điều của quy chế tuyển sinh không một ý nào nói đến chuyện đặc cách cho HS chuyên vào ĐH mà không qua con đường thi cử.
Đào tạo học sinh năng khiếu ở một số nước trong khu vực
Philippines: Từ lớp 7 trở lên, HS giỏi có 2 hướng lựa chọn: Nộp đơn vào các trường năng khiếu về khoa học và nghệ thuật hoặc học ở những trường phổ thông bình thường nhưng có các chương trình học đặc biệt như khối ngành nghệ thuật, thể thao, báo chí, ngoại ngữ, khoa học - công nghệ và kỹ thuật, nghề nghiệp. HS tham gia các chương trình đặc biệt này sẽ tăng thêm 2 giờ học mỗi ngày. Các chương trình đào tạo đặc biệt nhằm mục tiêu phát triển trọn vẹn tiềm năng, phát huy sở trường của HS, định hướng HS lựa chọn hướng đi nghề nghiệp trong tương lai.

Singapore: Hệ thống giáo dục của Singapore gồm 6 năm tiểu học, 4 - 6 năm bậc trung học. Ở bậc trung học, HS có nhiều lựa chọn. Nếu theo chương trình chính thống, HS sẽ học 4 - 5 năm THPT, trải qua một kỳ thi để vào chương trình chuẩn bị ĐH khoảng 2 - 3 năm, sau đó học tiếp 3 - 4 năm lấy bằng ĐH. Nếu theo chương trình chuyên, HS chỉ cần 6 năm để học phổ thông và chương trình dự bị ĐH.

Theo nhiều hướng khác nhau, ở những nước này, việc đào tạo HS năng khiếu nhằm phát huy tối đa tài năng của HS, định hướng HS phát huy sở trường để phát triển nghề nghiệp trong tương lai. Nói như ông Tharman Shanmugaratnam, Bộ trưởng Giáo dục Singapore giai đoạn 2003 - 2008, mỗi HS có năng khiếu đều phải được phát hiện, nuôi dưỡng và bồi đắp. Chúng ta phải tìm ra nhiều cách để phát hiện và chăm sóc các tài năng.

(Dựa theo tài liệu hội nghị lãnh đạo giáo dục các nước Đông Nam Á với chủ đề “Nurturing the development of gifted education in ASEAN countries” diễn ra tại Nha Trang cuối tháng 10 vừa qua)

Giáo viên tiếng anh người Philippines rất ít người đăng ký

Tương tự, Q.6 cũng không có trường nào đăng ký tuyển GV Philippines, nói như một lãnh đạo Phòng GD-ĐT quận này: “Nhận hay không là tùy thuộc vào các trường. Hiện đa số trường hợp đồng với GV người bản ngữ hẳn hoi (Mỹ và Canada) mà mức thu mỗi tháng chỉ có 50.000-70.000...

Chỉ đăng ký 29 giáo viên

Đến nay đã hết hạn đăng ký tuyển giáo viên (GV) Philippines về dạy tiếng Anh tại các trường tiểu học, THCS (chươngtrình thí điểm tuyển sinh 100 GV Philippines của Sở GD-ĐT TP.HCM), nhưng các trường chỉ đăng ký nhận 29 giáo viên.

Theo ông Lê Hồng Sơn - giám đốc Sở GD-ĐT TP, vì đây là chương trình thí điểm nên các trường tự do đăng ký theo nhu cầu và điều kiện của mình chứ sở không bắt buộc thực hiện. Trong số vài trăm trường có dạy tiếng Anh tăng cường, các quận huyện có thể chọn ra 100 trường hoặc nhiều hơn hoặc ít hơn để nhận GV Philippines về dạy.

Ngại ngần

“Các trường tiểu học và THCS trên địa bàn Q.3 năm nay tạm thời không đăng ký tuyển GV Philippines nào. Nguyên nhân là các trường đã hợp đồng với giáo viên nước ngoài(thông qua những trung tâm ngoại ngữ) ngay từ đầu năm học trong khi đến tháng 10-2012 sở mới triển khai việc này. Bây giờ không thể chấm dứt hợp đồng ngang xương được” - ông Lê Trường Kỳ, trưởng Phòng GD-ĐT Q.3, cho biết.

Một hiệu trưởng trường tiểu học ở Q.3 còn phân tích: “Nhiều năm nay trường đều hợp đồng với GV người Anh, mỗi tháng học sinh đóng thêm 70.000 đồng để học với người nước ngoài. Các khoản thu chúng tôi đều đã thỏa thuận với phụ huynh học sinh từ đầu năm học. Bây giờ, nếu tuyển GV Philippines thì mỗi học sinh phải đóng 120.000 đồng/tháng, nhà trường phải xin ý kiến phụ huynh, mà cũng rất khó thuyết phục họ khi tăng mức thu như thế”.

Tương tự, Q.6 cũng không có trường nào đăng ký tuyển GV Philippines, nói như một lãnh đạo Phòng GD-ĐT quận này: “Nhận hay không là tùy thuộc vào các trường. Hiện đa số trường hợp đồng với GV người bản ngữ hẳn hoi (Mỹ và Canada) mà mức thu mỗi tháng chỉ có 50.000-70.000 đồng/tháng/học sinh. Trong khi đó, người Philippines thì tiếng Anh đối với họ chỉ là ngôn ngữ thứ hai mà học phí lại cao hơn học với GV bản ngữ khiến các trường băn khoăn...”.

Cùng chung suy nghĩ, ông Nguyễn Thanh Hải - trưởng Phòng GD-ĐT Q.Tân Bình - chia sẻ: “Các trường thuộc Q.Tân Bình vẫn đang trong giai đoạn chờ đợi và thăm dò xem GV Philippines giảng dạy ra sao rồi mới tính. Nếu ngân sách trả lương thì chúng tôi ủng hộ ngay, còn chuyện thu của phụ huynh để trả lương cho GV thì phải cân nhắc. Nếu tuyển GV Philippines phải tính toán và họp với phụ huynh học sinh xem số lượng học sinh bao nhiêu, nguồn thu có đủ bù chi hay không. Mà muốn thu tiền thì các trường phải thông qua UBND quận, quận đồng ý mới được phép thu”. Một trong những ví dụ có thể kể là ở Trường THCS Nguyễn Gia Thiều, Q.Tân Bình những năm trước trường có hợp đồng với GV người Mỹ để dạy tiếng Anh cho học sinh các lớp tăng cường. Thù lao cho GV do nhà trường trích từ quỹ học phí tiếng Anh tăng cường chứ học sinh không phải đóng thêm.

Xem chất lượng ra sao, rồi tính tiếp

Q.5 được xem là địa phương đăng ký nhận nhiều GV Philippines nhất trong đợt này: sáu người. Theo bà Võ Ngọc Thu - trưởng Phòng GD-ĐT Q.5: “Không phải một GV dạy một trường mà một GV Philippines dạy tại một cụm gồm ba trường tọa lạc gần nhau. Học sinh sẽ đóng từ 120.000-150.000 đồng/tháng và mỗi cụm trường có mười lớp trở lên, như vậy thu mới đủ để trả lương cho GV. GV Philippines chỉ dạy cho học sinh học chương trình tiếng Anh theo đề án ngoại ngữ quốc gia, còn học sinh chương trình tiếng Anh tăng cường vẫn học với GV người bản ngữ do các trường tự hợp đồng từ đầu năm học”. Đây cũng là một giải pháp đáng ghi nhận nhưng bên cạnh đó, có hiệu trưởng đã băn khoăn: “Một GV dạy cùng lúc ba trường thì sinh hoạt chuyên môn sẽ như thế nào, liệu có toàn tâm toàn ý được hay không?”.

Q.1 được xem như cái nôi của chương trình tiếng Anh tăng cường (với đa số các trường tiểu học, THCS trên địa bàn đều có giảng dạy chương trình này) nhưng cũng chỉ thử đăng ký hai GV Philippines cho hai trường tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm và tiểu học Lê Ngọc Hân. Ông Đinh Thiện Căn, trưởng Phòng GD-ĐT Q.1, giải thích: “Hầu hết các trường đều đã hợp đồng với GV nước ngoài ngay từ đầu năm học, một số ít trường khác chưa có GV nước ngoài thì số học sinh học tiếng Anh lại ít quá, thu không đủ bù chi, nhà trường không dám nhận GV Philippines về dạy. Thôi thì cứ để hai trường có uy tín của Q.1 sử dụng trước xem chất lượng giảng dạy của GV Philippines như thế nào rồi năm học sau sẽ tính tiếp”.

Ông Lê Hồng Sơn khẳng định: “Dự kiến tháng 12-2012, GV Philippines sẽ chính thức giảng dạy tại các trường. Nói là tuyển nhưng trong quá trình giảng dạy, nếu GV không đủ năng lực, trình độ; tác phong, tư cách có vấn đề thì sở sẽ ngưng hợp đồng ngay. Sau một năm, chúng tôi sẽ đánh giá xem hiệu quả giảng dạy của GV Philippines ra sao rồi mới quyết định có nhân rộng vào những năm tiếp theo hay không”.
Ngân sách không kham nổi
“Ban đầu, việc tuyển 100 GV Philippines về dạy tại các trường phổ thông sẽ do ngân sách trả lương (2.000 USD/tháng/GV). Ngoài việc đứng lớp giảng dạy, các GV này sẽ tham gia sinh hoạt tổ chuyên môn, tổ chức các hoạt động ngoại khóa cho học sinh, góp ý và chia sẻ kinh nghiệm với các đồng nghiệp VN; hướng dẫn giáo viên tiếng Anh tại trường về phương pháp giảng dạy mới... nhằm mục đích nâng cao khả năng nghe - nói tiếng Anh cho GV và học sinh VN.

Đây là hoạt động nằm trong khuôn khổ đề án “Phổ cập và nâng cao năng lực sử dụngtiếng Anh cho học sinh phổ thông và chuyên nghiệp TP.HCM giai đoạn 2011-2020”. Sau đó, như mọi người đã biết là tình hình kinh tế khó khăn, ngân sách không kham nổi nên dự kiến sẽ xã hội hóa 50%, còn 50% ngân sách cấp bù. Nhưng rồi cuối cùng 50% lương của GV Philippines thì ngân sách cũng không kham nổi nên đành xã hội hóa 100%”.